BƯỚC ĐẾN GẦN CHIẾN TRANH
Tôi từng xem một bộ phim tài liệu có tên là “Đường đến hoà bình", đó là câu chuyện đi tìm kiếm công lý của một nạn nhân từng trực tiếp trải qua chiến tranh và bị thương bởi chiến tranh, cả thể xác lẫn tinh thần. Rất nhiều người ở thế hệ của cô Thanh đã giành hơn nửa cuộc đời để tự vỗ về những vết thương mà họ không đáng phải nhận lấy, để rồi khi tuổi đã xế chiều, họ đứng lên đi tìm về hoà bình thật sự mà chiến tranh đã tước đi của họ. Còn tôi và thế hệ chúng tôi lớn lên trong thời bình, đó là một điều hết sức may mắn bởi khi biết đủ nhiều về nỗi đau của chiến tranh, tôi càng thấy biết ơn vì mình không phải trực tiếp chứng kiến và trải qua nó.
Nhưng có lẽ vì thế, nên dù chiến tranh mới trôi qua đâu đó 50 năm thôi, nhưng những đứa trẻ như chúng tôi, thế hệ chúng tôi, thật quá xa vời để nói đến chiến tranh, để có thể cảm thấy rưng rưng xúc động về những đớn đau mà chiến tranh để lại, để hiểu cho những trải nghiệm đau đớn cùng cực của rất nhiều nạn nhân, thân nhân vẫn đang còn sống xung quanh chúng tôi để đồng cảm và sẻ chia với họ. Con đường đến gần chiến tranh của người trẻ Việt Nam như tôi vì thế cũng khá dài, chứa nhiều nước mắt, những sự bất ngờ của những lần giác ngộ, nhưng đó vẫn là trải nghiệm quý giá nhất trong cuộc đời bình thường của tôi.
Bản thân tôi từng là một học sinh không thích lịch sử, tôi bàng quan với mọi sự kiện lịch sử được học trên sách vở cứ như đó là câu chuyện của ai đó xa vời với tôi, không cần quan tâm cũng không sao. Nhưng đến khi thực hiện công tác liên lạc với nạn nhân, thân nhân ở Quỹ Hoà bình Hàn Việt, tôi mới dần nhận ra rằng chiến tranh vẫn gần mình như thế, nạn nhân vẫn ở quanh mình, họ vẫn đang sống với nhiều nỗi đau và giãy giụa suốt 50 năm qua trong những ký ức đầy ám ảnh về chiến tranh. Họ là nạn nhân, thân nhân trong những vụ thảm sát thường dân do quân đội Hàn Quốc gây ra trong chiến tranh Việt Nam - những nhân vật nhỏ bé, nhân vật phụ trong bất cứ một bộ phim tài liệu nào về chiến tranh tôi từng xem, nhưng khi lắng nghe những câu chuyện về chiến tranh của riêng họ, tôi nhất quán với suy nghĩ rằng họ là những người đầy can đảm, là nhân vật chính trong cuộc chiến khói lửa và trải nghiệm về chiến tranh của họ day dứt và đớn đau không thua kém bất cứ một thành tố nào khác của chiến tranh.
Thế nên khi lắng nghe những câu chuyện chiến tranh của họ, tôi cảm thấy như những mảnh ghép của bức tranh quá khứ đang được bàn tay nhăn nheo của những ông lão, bà lão ấy nắn nót, tỉ mỉ, chắp vá lại thật đầy đặn và sáng tỏ trong tôi. Sau mỗi cuộc điện thoại với nạn nhân, tôi đều cảm nhận được sự đau đớn, sợ hãi trong giọng kể của họ, họ như đang cố gắng dùng chút sức lực cuối của mình truyền lại những ký ức ấy cho tôi, cho thế hệ trẻ, như dặn tôi xin đừng quên đi câu chuyện ấy, họ không phải đang than thở với tôi, họ chỉ muốn chia sẻ với tôi ký ức về một phần đời nào đó của họ trước lúc tất cả biến thành một màu trắng vô tri, vô giác.
Và tôi ở đây, dùng tấm lòng cảm thông và kính trọng để lắng nghe họ, nghe về những gì mà có lẽ suốt đời tôi sẽ không bao giờ có thể trải qua nhưng vẫn đủ sức để gây cho tôi một nỗi ám ảnh khó quên được. Đó là những ám ảnh về ngày “Quân Hàn giết từng hầm từng hầm, ở đó kẻ thì chết ở trên miệng hầm, kẻ bị gãy chân, gãy tay, kẻ đổ rục xuống bể đầu, toác mắt, đủ hết á” “Kẻ thì, kẻ thì chết ở trên bếp, xác chết chồng lên nhau, chết nhiều dữ lắm" của cô Nguyễn Thị Bốn, một nạn nhân còn sống sót trong vụ thảm sát vườn nhà ông Nguyễn Trái, tỉnh Quảng Nam.
Đường đến với chiến tranh của tôi gần hơn bao giờ hết khi cùng đoàn Hàn Quốc đến thăm những địa danh, những chứng nhân còn sống từ những vụ thảm sát kinh hoàng ngày ấy. Tôi ngắm nhìn đến sững sờ bởi hàng trăm cái tên nạn nhân được khắc trên tấm bia lớn, trong số đó đại đa phần là phụ nữ, người già và trẻ nhỏ, có những đứa trẻ còn chưa kịp có một cái tên của riêng mình, giờ nằm lại đó với cái tên “Vô Danh”. Tôi cũng trực tiếp sờ vào những bia đá lạnh lẽo, cái chết và sự chia ly tang tóc của chiến tranh giờ gói gọn trước mắt người ở lại trong ba chữ “mộ tập thể".
Lạ lùng thay, đứng ở đó và nhìn vào những tấm bia đá vô tri vô giác ấy thôi, kết hợp với câu chuyện mà tôi đã nghe được từ những cụ ông, cụ bà mà tôi cũng có thể hình dung được khung cảnh hỗn loạn của cái buổi chạy giặc, khung cảnh tang thương của những người dân bị lính Đại Hàn bắt xếp thành hàng ngay bờ ruộng rồi bị bắn chết, tiếng súng dồn và tiếng la hét, van xin của những người phụ nữ tội nghiệp đó vọng về từ một nơi rất xa vào tai tôi. Mũi tôi như ngửi được cái mùi đất ẩm mốc dưới hầm trú, tim tôi như ngừng lại hoà cùng các nạn nhân trong giây phút nghẹt thở, mọi thứ ở dưới hầm tĩnh lặng như tờ, bởi chỉ một âm thanh nhỏ bé phát ra thôi thì một quả lựu đạn sẽ dội xuống và bản thân tôi cũng sẽ chết trong ngạt thở và đớn đau. Tất cả thật chân thực và gần gũi đến đáng sợ.
Cũng giống như cái cách tôi từng ngây thơ hỏi ba “Vì sao phải có chiến tranh?”, giờ ba lại hỏi tôi “Sao con phải tìm hiểu về chiến tranh? Sao con lại muốn làm công việc này?”. Tôi đã im lặng và suy nghĩ rất nhiều về câu hỏi này. Tại sao một người bàng quan với lịch sử như tôi lại muốn đi, muốn nghe, muốn chạm vào lịch sử chiến tranh đến thế? Bởi càng đi nhiều, càng nghe nhiều, tôi lại thấy quý trọng cuộc sống mình đang sống, quý trọng hoà bình mà tôi đang được hưởng. Bởi khi tôi nhận ra nền hoà bình xanh biếc, trong vắt nơi mắt tôi đã từng là một màu đen tối tăm dưới hầm trú, màu đỏ của máu, màu trắng của tang tóc, chia ly trong mắt những ông cụ, bà cụ ấy thì cuộc sống hoà bình, giản dị vốn dĩ nhạt nhoà trước đó bỗng rõ nét và quý giá với tôi. Nó khiến tôi thêm yêu cuộc sống với những điều bình dị này, quan tâm đến những người xung quanh từ những chuyện nhỏ nhặt, và nỗ lực hơn cho tương lai phía trước. Chính tình yêu đó đã khiến tôi muốn tiếp tục đi trên con đường bước đến gần chiến tranh.
Hoàng Thị Hạnh Tiên
전쟁에 다가가는 발걸음
BƯỚC ĐẾN GẦN CHIẾN TRANH
Tôi từng xem một bộ phim tài liệu có tên là “Đường đến hoà bình", đó là câu chuyện đi tìm kiếm công lý của một nạn nhân từng trực tiếp trải qua chiến tranh và bị thương bởi chiến tranh, cả thể xác lẫn tinh thần. Rất nhiều người ở thế hệ của cô Thanh đã giành hơn nửa cuộc đời để tự vỗ về những vết thương mà họ không đáng phải nhận lấy, để rồi khi tuổi đã xế chiều, họ đứng lên đi tìm về hoà bình thật sự mà chiến tranh đã tước đi của họ. Còn tôi và thế hệ chúng tôi lớn lên trong thời bình, đó là một điều hết sức may mắn bởi khi biết đủ nhiều về nỗi đau của chiến tranh, tôi càng thấy biết ơn vì mình không phải trực tiếp chứng kiến và trải qua nó.
Nhưng có lẽ vì thế, nên dù chiến tranh mới trôi qua đâu đó 50 năm thôi, nhưng những đứa trẻ như chúng tôi, thế hệ chúng tôi, thật quá xa vời để nói đến chiến tranh, để có thể cảm thấy rưng rưng xúc động về những đớn đau mà chiến tranh để lại, để hiểu cho những trải nghiệm đau đớn cùng cực của rất nhiều nạn nhân, thân nhân vẫn đang còn sống xung quanh chúng tôi để đồng cảm và sẻ chia với họ. Con đường đến gần chiến tranh của người trẻ Việt Nam như tôi vì thế cũng khá dài, chứa nhiều nước mắt, những sự bất ngờ của những lần giác ngộ, nhưng đó vẫn là trải nghiệm quý giá nhất trong cuộc đời bình thường của tôi.
Bản thân tôi từng là một học sinh không thích lịch sử, tôi bàng quan với mọi sự kiện lịch sử được học trên sách vở cứ như đó là câu chuyện của ai đó xa vời với tôi, không cần quan tâm cũng không sao. Nhưng đến khi thực hiện công tác liên lạc với nạn nhân, thân nhân ở Quỹ Hoà bình Hàn Việt, tôi mới dần nhận ra rằng chiến tranh vẫn gần mình như thế, nạn nhân vẫn ở quanh mình, họ vẫn đang sống với nhiều nỗi đau và giãy giụa suốt 50 năm qua trong những ký ức đầy ám ảnh về chiến tranh. Họ là nạn nhân, thân nhân trong những vụ thảm sát thường dân do quân đội Hàn Quốc gây ra trong chiến tranh Việt Nam - những nhân vật nhỏ bé, nhân vật phụ trong bất cứ một bộ phim tài liệu nào về chiến tranh tôi từng xem, nhưng khi lắng nghe những câu chuyện về chiến tranh của riêng họ, tôi nhất quán với suy nghĩ rằng họ là những người đầy can đảm, là nhân vật chính trong cuộc chiến khói lửa và trải nghiệm về chiến tranh của họ day dứt và đớn đau không thua kém bất cứ một thành tố nào khác của chiến tranh.
Thế nên khi lắng nghe những câu chuyện chiến tranh của họ, tôi cảm thấy như những mảnh ghép của bức tranh quá khứ đang được bàn tay nhăn nheo của những ông lão, bà lão ấy nắn nót, tỉ mỉ, chắp vá lại thật đầy đặn và sáng tỏ trong tôi. Sau mỗi cuộc điện thoại với nạn nhân, tôi đều cảm nhận được sự đau đớn, sợ hãi trong giọng kể của họ, họ như đang cố gắng dùng chút sức lực cuối của mình truyền lại những ký ức ấy cho tôi, cho thế hệ trẻ, như dặn tôi xin đừng quên đi câu chuyện ấy, họ không phải đang than thở với tôi, họ chỉ muốn chia sẻ với tôi ký ức về một phần đời nào đó của họ trước lúc tất cả biến thành một màu trắng vô tri, vô giác.
Và tôi ở đây, dùng tấm lòng cảm thông và kính trọng để lắng nghe họ, nghe về những gì mà có lẽ suốt đời tôi sẽ không bao giờ có thể trải qua nhưng vẫn đủ sức để gây cho tôi một nỗi ám ảnh khó quên được. Đó là những ám ảnh về ngày “Quân Hàn giết từng hầm từng hầm, ở đó kẻ thì chết ở trên miệng hầm, kẻ bị gãy chân, gãy tay, kẻ đổ rục xuống bể đầu, toác mắt, đủ hết á” “Kẻ thì, kẻ thì chết ở trên bếp, xác chết chồng lên nhau, chết nhiều dữ lắm" của cô Nguyễn Thị Bốn, một nạn nhân còn sống sót trong vụ thảm sát vườn nhà ông Nguyễn Trái, tỉnh Quảng Nam.
Đường đến với chiến tranh của tôi gần hơn bao giờ hết khi cùng đoàn Hàn Quốc đến thăm những địa danh, những chứng nhân còn sống từ những vụ thảm sát kinh hoàng ngày ấy. Tôi ngắm nhìn đến sững sờ bởi hàng trăm cái tên nạn nhân được khắc trên tấm bia lớn, trong số đó đại đa phần là phụ nữ, người già và trẻ nhỏ, có những đứa trẻ còn chưa kịp có một cái tên của riêng mình, giờ nằm lại đó với cái tên “Vô Danh”. Tôi cũng trực tiếp sờ vào những bia đá lạnh lẽo, cái chết và sự chia ly tang tóc của chiến tranh giờ gói gọn trước mắt người ở lại trong ba chữ “mộ tập thể".
Lạ lùng thay, đứng ở đó và nhìn vào những tấm bia đá vô tri vô giác ấy thôi, kết hợp với câu chuyện mà tôi đã nghe được từ những cụ ông, cụ bà mà tôi cũng có thể hình dung được khung cảnh hỗn loạn của cái buổi chạy giặc, khung cảnh tang thương của những người dân bị lính Đại Hàn bắt xếp thành hàng ngay bờ ruộng rồi bị bắn chết, tiếng súng dồn và tiếng la hét, van xin của những người phụ nữ tội nghiệp đó vọng về từ một nơi rất xa vào tai tôi. Mũi tôi như ngửi được cái mùi đất ẩm mốc dưới hầm trú, tim tôi như ngừng lại hoà cùng các nạn nhân trong giây phút nghẹt thở, mọi thứ ở dưới hầm tĩnh lặng như tờ, bởi chỉ một âm thanh nhỏ bé phát ra thôi thì một quả lựu đạn sẽ dội xuống và bản thân tôi cũng sẽ chết trong ngạt thở và đớn đau. Tất cả thật chân thực và gần gũi đến đáng sợ.
Cũng giống như cái cách tôi từng ngây thơ hỏi ba “Vì sao phải có chiến tranh?”, giờ ba lại hỏi tôi “Sao con phải tìm hiểu về chiến tranh? Sao con lại muốn làm công việc này?”. Tôi đã im lặng và suy nghĩ rất nhiều về câu hỏi này. Tại sao một người bàng quan với lịch sử như tôi lại muốn đi, muốn nghe, muốn chạm vào lịch sử chiến tranh đến thế? Bởi càng đi nhiều, càng nghe nhiều, tôi lại thấy quý trọng cuộc sống mình đang sống, quý trọng hoà bình mà tôi đang được hưởng. Bởi khi tôi nhận ra nền hoà bình xanh biếc, trong vắt nơi mắt tôi đã từng là một màu đen tối tăm dưới hầm trú, màu đỏ của máu, màu trắng của tang tóc, chia ly trong mắt những ông cụ, bà cụ ấy thì cuộc sống hoà bình, giản dị vốn dĩ nhạt nhoà trước đó bỗng rõ nét và quý giá với tôi. Nó khiến tôi thêm yêu cuộc sống với những điều bình dị này, quan tâm đến những người xung quanh từ những chuyện nhỏ nhặt, và nỗ lực hơn cho tương lai phía trước. Chính tình yêu đó đã khiến tôi muốn tiếp tục đi trên con đường bước đến gần chiến tranh.
Hoàng Thị Hạnh Tiên