문헌자료[판결문] Bản phản quyết_(Tiếng Việt) / 퐁니·퐁녓 사건 응우옌티탄 국가배상소송 2심 판결문(2025년 1월) 베트남어 번역본

2025-07-21
조회수 893

판결문 한글본  판결문 영어 번역본  판결문 일본어 번역본

a969dc7636f43.jpg

베트남전 퐁니·퐁녓 민간인학살 사건 관련 원고 응우옌티탄의 국가배상소송 2심 판결문(2025년 1월) 영문본을 공유합니다. 판결문 원본에서 비실명화된 버전을 번역한 것입니다. (페이지 하단에서 판결문 번역본 첨부파일 다운로드)

번역을 맡아주신 응우옌응옥뚜옌과 응우옌티리에우 님 그리고 감수를 맡아주신 쩐꽝티 님께 진심으로 감사드리며 <베트남전쟁 문제의 정의로운 해결을 위한 시민사회 네트워크>의 2025년 활동 기금에 후원 참여하여 이번 판결문 번역사업에 연대의 힘을 보내주신 시민 여러분께도 진심으로 감사의 인사들 드립니다.


* * * * * * *


베트남전 민간인학살 피해자 퐁니 마을 응우옌티탄의 

국가배상소송 판결문을 전 세계에 전하며


베트남전쟁 시기였던 1968년 2월 12일, 베트남 중부의 퐁니·퐁녓 마을에서 한국군에 의해 주민 74명이 무차별적으로 살해당하는 일이 벌어졌습니다. 당시 만 7세였던 소녀 응우옌티탄(Nguyễn Thị Thanh)은 복부에 심각한 총상을 입고 살아남았지만 집단학살로 어머니와 언니, 남동생을 잃고 전쟁고아가 되었습니다. 사건 이후 50여 년이 지난 2020년, 응우옌티탄은 대한민국 법정의 문을 두드렸습니다. 자신과 가족에게 가해진 한국군의 전쟁범죄에 대해 한국 정부의 진실 인정과 책임을 요구한 국가배상소송을 제기한 것입니다.

한국에서는 1999년부터 본격적으로 베트남전쟁 시기 한국군에 의한 민간인학살 피해생존자와 유가족들의 목소리가 알려졌습니다. 시민사회에서는 베트남의 피해자와 연대해 한국 정부에 베트남전 진실규명과 사죄를 요구하는 ‘미안해요 베트남’ 운동이 시작되었습니다. 그러나 20년 넘게 한국 정부는 침묵과 외면으로 일관했습니다. 응우옌티탄의 소송은 무책임했던 한국 정부를 피고로 법정에 세워 한국 사회를 다시금 베트남전쟁 문제와 직면하게 했습니다. 

퐁니·퐁녓학살은 한국군 민간인학살 사건들 가운데 가장 많은 증거 자료와 증인이 존재합니다. 학살 직후 작성된 미군의 조사보고서에는 희생자들의 처참한 주검 사진까지 첨부되어 있습니다. 퐁니 마을에서 작전을 수행한 한국 참전군인들의 증언도 이어졌습니다. 무엇보다 소송의 원고인 응우옌티탄은 학살 과정에서 심각한 총상을 입고 극적으로 살아난 생존자이자 유가족이었고 당시 사건을 생생히 기억하고 있습니다. 

원고 응우옌티탄의 용기와 진실된 호소에 대한민국 사법부는 기념비적인 승소 판결로 화답했습니다. 2023년 2월, 1심에서 응우옌티탄은 승소했고 한국과 베트남은 물론 일본, 미국, 프랑스 등 세계 주요 언론이 응우엔티탄의 법정 투쟁에 주목했습니다. 한국 정부가 항소하여 재판이 이어졌으나, 2025년 1월 재판부는 피고 대한민국의 항소를 기각하며 다시 한번 응우옌티탄의 진실과 정의에 손을 들어주었습니다. 소송은 현재 대법원에서 진행 중이며 선고까지는 수년의 시간이 더 소요될 것입니다. 이번 소송은 민사소송으로 진행되어 배상금을 청구하였는데, 원고가 요구한 금액은 3,000만 100원입니다. 이 금액은 민사소송에서 판결문을 받기 위한 최소 금액으로, 응우옌티탄의 청구금에는 소송을 통해 무엇보다도 진실규명을 이루고자 했던 그의 간절한 염원이 담겨 있습니다. 

이번 판결은 한국의 공적 기관이 베트남전 민간인학살의 진실과 책임을 인정한 최초의 사례라는 점에서 매우 중요한 의미를 갖습니다. 또한 베트남전쟁 시기에 벌어진 민간인학살 문제와 관련하여 가해국의 책임을 인정한 최초의 판결이라는 점에서도 큰 의미가 있습니다. 또한 이번 판결의 내용은 지금도 전 세계 곳곳에서 벌어지고 있는 식민지배, 국가폭력, 전쟁범죄에 대한 과거사에 대한 문제제기를 하는데 있어서 매우 긍정적인 의미가 있습니다. 전쟁이라는 극한의 상황에서도 민간인을 보호해야하는 국제인도법의 원칙이 중시된 것이고, 국가에 종속되지 않은 한 개인으로서 전쟁 피해자가 갖는 피해회복의 정당한 권리가 인정된 것이며, 전쟁범죄 문제에 있어 그 어떤 국가도 결코 면책될 수 없다는 점이 이번 소송에서 확인되었습니다.

이번 1심, 2심 판결의 승소에는 베트남의 피해자·유가족들과 연대하며 26년간 베트남전 진실규명 투쟁을 이어온 한국 시민사회의 기여 또한 매우 컸습니다. 2015년에 결성된 ‘민주사회를 위한 변호사모임의 베트남전쟁 민간인학살 진실규명 TF’의 변호사들이 원고 응우옌티탄의 대리인단이 되어 이번 국가배상소송을 수행했습니다. 한국 시민사회는 소송에 앞서 2018년에 ‘베트남전쟁 시기 한국군에 의한 민간인 학살 진상규명을 위한 시민평화법정’을 서울에서 개최하여 퐁니·퐁녓학살과 하미학살 사건을 다뤘습니다. 2018년의 이 모의법정은 2000년 일본 도쿄에서 열린 ‘일본군 성노예 전범 여성국제법정’과 베트남전쟁 시기 스웨덴과 덴마크에서 열린 ‘러셀법정’과 그 역사적 고리를 함께 합니다. 피해자와 가해국의 시민들이 함께하는 초국적 연대의 장이었던 시민평화법정은 베트남전 민간인학살 문제 관련 20년간 한국 사회에 축적된 수많은 증거들과 기억, 법적 근거들을 집대성한 자리였고, 그 누구보다 진실규명을 염원하는 베트남 피해자의 목소리를 확인할 수 있었습니다. 또한 베트남전쟁 문제에 있어 ‘가해자의 자리’를 성찰해야하는 대한민국의 과제를 확인한 시간이기도 했습니다. 2018년 시민평화법정은 국가배상소송으로 가는 예비적 과정이자 베트남전 과거사 문제에 대한 한국 시민사회의 공론장을 새롭게 구축했고, 앞으로의 진상규명운동을 위한 새로운 동력을 만들어냈습니다. 이러한 연장선에서 2020년부터 시작된 베트남전 민간인학살 소송은 피해자 응우옌티탄의 법정 투쟁이자 한국 사회가 가해자의 자리를 직시하고 그 책임을 다하기 위해 한걸음 더 나아간, 진실과 정의를 위한 평화운동이기도 했습니다.

이번 판결문의 번역과 배포를 추진한 ‘베트남전쟁 문제의 정의로운 해결을 위한 시민사회 네트워크’(이하 네트워크)는 2020년에 결성되어 베트남전 진실규명 문제와 관련된 다양한 활동을 현재에도 이어가고 있습니다. 네트워크는 2023년 2월 1심 승소 판결 이후 판결문을 베트남어, 일본어, 영어로 번역해 배포했고 2025년 1월 항소심 판결문도 번역해 세계인들에게 공유하고자 합니다. 한베평화재단이 수집한 자료에 따르면 베트남전쟁 시기 한국군 민간인학살 피해로 130여 건의 학살 사건과 1만 명 이상의 희생자가 발생한 것으로 파악됩니다. 이번 판결문 번역을 통해 한국 시민사회가 전하는 사죄와 연대, 평화의 마음이 베트남의 수많은 피해자와 유가족들에게 전해지길 바라며 이번 응우옌티탄의 승소가 갖는 역사적 의미가 베트남 사회에서도 기억되고 성찰되기를 희망합니다.

일본은 일제 식민지배 역사로 한국과 해결되지 않은 과거사 문제를 안고 있는 이웃 나라입니다. 베트남전쟁 시기 일본이 파병은 하지 않았지만 전쟁 특수를 누렸고 시민사회에서는 반전운동이 활발했던 역사가 있었던 만큼 베트남전쟁 문제에 관심 있는 연구자와 시민들이 많을 것이라 기대됩니다. 이번 판결문을 통해 국가폭력과 전쟁범죄 책임의 문제를 한국과 일본 시민사회가 함께 성찰하는 계기를 마련할 수 있기를 바랍니다. 또한 우리는 판결문의 영문 번역본을 통해 베트남전쟁을 주도했던 미국을 비롯한 전 세계인들에게 이번 베트남전 민간인학살 판결의 의미를 공유하고자 합니다. 1975년 베트남전 종전 이후에도 지구에서는 제2, 제3의 베트남전쟁이 되풀이되었고 지금도 세계 곳곳에서는 또 다른 응우옌티탄, 퐁니·퐁녓의 비극이 반복되고 있습니다. 20세기와 21세기를 아울러 이 세상의 모든 전쟁범죄가 그 어떤 이유로도 정당화될 수 없다는 진리의 한 조각을 이번 판결문에 담아 세계인들과 나누고자 합니다. 

이 판결문은 법률 문서인 동시에 하나의 역사적 증언이자 인권과 평화의 기록입니다. 판결문을 만날 전 세계 시민 여러분께 요청합니다. 이 기록을 단지 한국과 베트남의 일이 아닌, 우리 모두의 역사이자 과제로 읽어주시길 바랍니다. 침묵과 망각 속에서 어렵게 꺼낸 목소리, 전쟁범죄를 은폐하려는 국가에 맞서 진실과 정의가 승리한 법정 투쟁의 기록을 여러분의 평화로 읽어주십시오. 정의가 너무 늦게 오지 않도록, 다시는 같은 일이 반복되지 않도록, 진실과 마주하며 과거의 죄에서 미래의 평화를 발견하는 인류 공동체가 될 수 있도록, 우리가 함께 기억하고, 함께 나아가기를 바랍니다.


2025년 6월

베트남전쟁 문제의 정의로운 해결을 위한 시민사회 네트워크


독립연구활동가 심아정, 민변 베트남전 진상규명 TF, 베트남평화의료연대,
열린군대를위한시민연대, 아카이브평화기억, 참여연대, 한베평화재단, 향린교회


* * * * * *

Gửi đến toàn thế giới bản phán quyết vụ kiện đòi bồi thường
quốc gia của bà Nguyễn Thị Thanh làng Phong Nhị 
- nạn nhân sống sót trong vụ thảm sát thường dân 
thời kỳ Chiến tranh Việt Nam


Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, ngày 12 tháng 2 năm 1968, tại làng Phong Nhất – Phong Nhị ở miền Trung Việt Nam đã xảy ra vụ việc 74 người dân bị quân đội Hàn Quốc thẳng tay sát hại. Là một cô bé chỉ mới 7 tuổi ở thời điểm đó, Nguyễn Thị Thanh bị bắn trọng thương ở bụng, bà may mắn sống sót nhưng cuộc thảm sát đã cướp mất đi mẹ, chị gái, em trai của bà, bà trở thành trẻ mồ côi vì chiến tranh. 50 năm sau khi vụ việc xảy ra, vào năm 2020, bà Nguyễn Thị Thanh đã tới gõ cửa tòa án Đại Hàn Dân Quốc. Bà gởi đơn kiện đòi bồi thường quốc gia, yêu cầu chính phủ Hàn Quốc phải thừa nhận sự thật, cũng như chịu trách nhiệm về tội ác chiến tranh do quân đội Hàn Quốc gây ra cho bản thân và gia đình bà.

Kể từ năm 1999, tiếng nói của những nạn nhân sống sót và các gia đình thân nhân của các vụ thảm sát thường dân do quân đội Hàn Quốc gây ra trong Chiến tranh Việt Nam chính thức bắt đầu được lan truyền trong xã hội Hàn Quốc. Xã hội dân sự bắt đầu đoàn kết với các nạn nhân, đẩy mạnh phong trào “Xin lỗi Việt Nam” yêu cầu chính phủ Hàn Quốc phải làm sáng tỏ sự thật và xin lỗi về những gì đã gây ra trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, suốt hơn 20 năm qua, chính phủ Hàn Quốc vẫn một mực giữ thái độ im lặng và bàng quan trước vấn đề này. Vụ kiện của bà Nguyễn Thị Thanh đã khiến một chính phủ Hàn Quốc vô trách nhiệm đã phải trở thành bị đơn trước vành móng ngựa, khiến xã hội Hàn Quốc một lần nữa phải trực tiếp đối diện với vấn đề Chiến tranh Việt Nam.

Vụ thảm sát Phong Nhất – Phong Nhị có thể xem là vụ việc có nhiều tư liệu chứng cứ, nhân chứng sống nhất trong tất cả các vụ thảm sát thường dân do quân đội Hàn Quốc gây ra. Trong báo cáo điều tra của quân đội Hoa Kỳ được thực hiện ngay sau cuộc thảm sát vẫn còn đính kèm hình ảnh chụp những thi thể chết thê thảm của các nạn nhân. Tiếp đó còn là những lời kể của những binh sĩ tham chiến Hàn Quốc đã tham gia vào cuộc tác chiến tại làng Phong Nhị. Và hơn cả là nguyên đơn của vụ kiện, bà Nguyễn Thị Thanh – vừa là thân nhân, lại vừa là người sống sót một cách thần kỳ sau khi bị bắn trọng thương ở bụng lúc thảm sát, bà vẫn còn nhớ rất rõ mọi việc đã diễn ra ngày ấy. 

Trước dũng khí và lời kêu gọi chân thành của nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh, Bộ Tư Pháp Đại Hàn Dân Quốc đã đáp lại bằng phán quyết thắng kiện lừng lững như một tượng đài kỷ niệm. Tháng 2 năm 2023, bà Nguyễn Thị Thanh được xử thắng kiện ở phiên sơ thẩm, các hãng thông tấn lớn không chỉ của Hàn Quốc, Việt Nam mà của toàn thế giới như Nhật, Mỹ, Pháp v.v. đều theo dõi hành trình đấu tranh pháp lý của bà Nguyễn Thị Thanh. Chính phủ Hàn Quốc kháng cáo, việc xét xử phải tiếp tục diễn ra, nhưng, tháng 1 năm 2025, một lần nữa, tòa án đã công nhận sự thật và chính nghĩa của bà Nguyễn Thị Thanh, bác bỏ kháng cáo của bị đơn Đại Hàn Dân Quốc. Hiện tại, vụ kiện vẫn đang diễn ra tại tòa án tối cao, sẽ còn nhiều năm nữa cho đến ngày tuyên án cuối cùng. Vụ kiện lần này mang tính chất một vụ kiện dân sự để đòi tiền bồi thường, và số tiền nguyên đơn yêu cầu là 30.000.100 Won. Số tiền này là số tiền tối thiểu để có thể được phán quyết trong một vụ kiện dân sự, như vậy, số tiền đòi bồi thường của Nguyễn Thị Thanh trên thực tế chỉ chứa đựng niềm mong mỏi khẩn thiết của bà muốn sự thật lịch sử được làm sáng tỏ mà thôi.

Phán quyết lần này mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng khi đây là lần đầu tiên một cơ quan công quyền của Hàn Quốc thừa nhận sự thật và trách nhiệm về một cuộc thảm sát thường dân trong Chiến tranh Việt Nam. Đồng thời, nó có một ý nghĩa hết sức to lớn khi là bản phán quyết đầu tiên thừa nhận trách nhiệm của nước xâm hại liên quan đến vấn đề thảm sát thường dân xảy ra trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Bên cạnh đó, nội dung của bản phán quyết lần này là một thông điệp vô cùng tích cực về các vấn đề lịch sử có liên quan đến thống trị thực dân, bạo lực quốc gia, tội phạm chiến tranh v.v. đang xảy ra khắp mọi nơi trên thế giới. Ngay cả trong tình huống tồi tệ nhất – chiến tranh, nguyên tắc của Luật Nhân đạo Quốc tế đòi hỏi phải bảo vệ thường dân vẫn được chú trọng, quyền lợi chính đáng để khắc phục thiệt hại của các nạn nhân chiến tranh với tư cách là một cá nhân không thuộc về nhà nước vẫn được công nhận, và ở vấn đề tội phạm chiến tranh, không một quốc gia nào có thể được miễn truy cứu trách nhiệm. Đây là những điểm có thể xác nhận được qua vụ kiện lần này.

Trong việc thắng kiện theo phán quyết ở vòng sơ thẩm, phúc thẩm lần này, đóng góp của xã hội dân sự Hàn Quốc là rất lớn khi đã nỗ lực liên kết với các nạn nhân, gia đình thân nhân Việt Nam và duy trì phong trào đấu tranh đòi làm sáng tỏ sự thật về Chiến tranh Việt Nam trong suốt 26 năm qua. Được thành lập vào năm 2015, các luật sư của “Nhóm đặc trách làm sáng tỏ sự thật thảm sát thường dân Việt Nam của quân đội Hàn Quốc thuộc Hiệp hội Luật sư vì xã hội dân chủ” đã đứng ra làm các đại diện pháp lý cho nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh để tiến hành vụ kiện đòi bồi thường nhà nước lần này. Từ trước đó, năm 2018, xã hội dân sự Hàn Quốc đã tổ chức “Phiên tòa hòa bình nhằm làm sáng tỏ sự thật các cuộc thảm sát thường dân do quân đội Hàn Quốc gây ra trong Chiến tranh Việt Nam” tại Seoul để xét xử vụ thảm sát ở Phong Nhất – Phong Nhị và vụ thảm sát Hà My. Phiên tòa giả định năm 2018 ấy có cùng một mắt xích lịch sử với “Phiên tòa quốc tế phụ nữ về tội phạm chiến tranh nô lệ tình dục của quân đội Nhật Bản” được tổ chức tại Tokyo năm 2000, và “Phiên tòa Russel” được tổ chức tại Thụy Điển và Đan Mạch trong thời kỳ xảy ra Chiến tranh Việt Nam. Là nơi để gắn kết siêu quốc gia giữa các nạn nhân và công dân của nước xâm hại, phiên tòa hòa bình nhân dân này là một tập đại thành của những lời kể, những ký ức, các căn cứ pháp lý đã được tích lũy trong xã hội Hàn Quốc suốt 20 năm liên quan đến vấn đề thảm sát thường dân trong Chiến tranh Việt Nam, và nhờ đó mới có thể xác nhận được tiếng nói của các nạn nhân Việt Nam hơn ai hết luôn mong mỏi sự thật về cuộc thảm sát được làm sáng tỏ. Đồng thời, riêng đối với vấn đề chiến tranh Việt Nam, đây cũng là khoảng thời gian giúp chúng ta xác định lại bài toán đặt ra cho Đại Hàn Dân Quốc luôn phải cảnh tỉnh, tự xem xét mình “ở vị thế của bên xâm hại”. Phiên tòa hòa bình nhân dân năm 2018 là một bước đệm đưa đến vụ kiện đòi bồi thường nhà nước, cũng tạo ra một nguồn động lực mới giúp xây dựng lại mới môi trường công luận trong xã hội dân sự Hàn Quốc về vấn đề này, phục vụ cho phong trào kêu gọi làm sáng tỏ sự thật các cuộc thảm sát trong tương lai. Tiếp nối mạch hoạt động, vụ kiện về vấn đề thảm sát thường dân trong Chiến tranh Việt Nam bắt đầu từ năm 2020 vừa là một cuộc đấu tranh pháp lý của nạn nhân Nguyễn Thị Thanh, vừa là một phong trào hòa bình vì sự thật và chính nghĩa, giúp xã hội Hàn Quốc trực diện với vị trí của bên xâm hại, và từng bước thực hiện trách nhiệm của bản thân trong vấn đề này.

Là đơn vị phụ trách việc xúc tiến công tác biên dịch và phổ biến bản phán quyết lần này, “Mạng lưới xã hội dân sự nhằm giải quyết thỏa đáng vấn đề chiến tranh Việt Nam” (gọi tắt là Mạng lưới) là tổ chức được thành lập vào năm 2020 và cho đến nay vẫn tiếp tục nhiều hoạt động đa dạng liên quan đến vấn đề làm sáng tỏ sự thật Chiến tranh Việt Nam. Sau phán quyết thắng kiện phiên sơ thẩm vào tháng 2 năm 2023, tổ chức Mạng lưới đã cho dịch và phổ biến bản phán quyết bằng tiếng Việt, tiếng Nhật, và tiếng Anh. Với bản phán quyết cho phiên phúc thẩm tháng 1 năm 2025 này, tổ chức Mạng lưới cũng mong muốn được lan truyền ra thế giới. Theo các tài liệu do Quỹ Hòa bình Hàn-Việt thu thập được, ước tính có tổng cộng hơn 130 vụ thảm sát thường dân do quân đội Hàn Quốc gây ra, làm thiệt mạng hơn 10.000 người. Thông qua việc dịch và phổ biến bản phán quyết lần này, tổ chức Mạng lưới mong rằng lời xin lỗi, tinh thần gắn kết, và tấm lòng hòa bình của xã hội dân sự Hàn Quốc sẽ được truyền đạt đến các nạn nhân, gia đình thân nhân Việt Nam trong các vụ thảm sát, cũng như mong rằng ý nghĩa lịch sử trong vụ thắng kiện của bà Nguyễn Thị Thanh lần này sẽ được ghi nhớ và ghi nhận trong xã hội Việt Nam.

Là láng giềng của Hàn Quốc, Nhật Bản là nước cũng mang một vấn đề lịch sử xảy ra trong thời Nhật thuộc mãi đến giờ vẫn chưa giải quyết xong với Hàn Quốc. Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, Nhật Bản dù không gửi quân tham chiến nhưng lại được hưởng những đặc thù, đặc lợi chiến tranh, khiến phong trào phản chiến dâng cao trong xã hội dân sự Nhật Bản đương thời. Vì vậy, chúng tôi mong rằng sẽ có nhiều các nhà nghiên cứu lịch sử, những người dân Nhật Bản quan tâm đến vấn đề Chiến tranh Việt Nam. Chúng tôi mong rằng bản phán quyết lần này sẽ là cơ hội để xã hội dân sự Hàn Quốc và Nhật Bản cùng nhau nhìn lại, suy xét thấu đáo về vấn đề trách nhiệm đối với các hành vi bạo lực quốc gia và tội ác chiến tranh. Đồng thời, chúng tôi cũng mong rằng, với bản dịch tiếng Anh của bản phán quyết, từ Mỹ - nước đã gây ra Chiến tranh Việt Nam cho đến nhiều nước khác trên toàn thế giới sẽ hiểu được ý nghĩa của bản phán quyết về cuộc thảm sát thường dân tại Việt Nam này. Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975 cho đến nay, nhiều nơi trên trái đất vẫn còn lặp lại các cuộc chiến Việt Nam thứ 2, thứ 3 khác, và ngay giờ phút này, bi kịch của bà Nguyễn Thị Thanh, của Phong Nhất – Phong Nhị vẫn tiếp tục xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Không một tội ác chiến tranh nào trên thế giới xảy ra trong thế kỷ 20 hay thế kỷ 21 này có thể xem là chính đáng dù với bất kỳ lý do nào. Đây là chân lý được khẳng định trong bản phán quyết này và xin được chia sẻ đến mọi người dân trên thế giới.

Bản phán quyết vừa là một văn bản pháp lý, vừa là một chứng nhân lịch sử, lại vừa là một ghi chép cho nhân quyền và hòa bình. Chúng tôi muốn kêu gọi đến tất cả các bạn, những công dân của thế giới được tiếp cận bản phán quyết này. Mong rằng các bạn sẽ không hạn định tài liệu này chỉ là việc xảy ra giữa Hàn Quốc và Việt Nam mà hơn cả thế, các bạn sẽ đón đọc tài liệu này như một vấn đề, một bài toán lịch sử của tất cả chúng ta. Những tiếng nói khó khăn cất lên giữa im lặng và quên lãng, một bản ghi chép cho một hành trình đấu tranh pháp lý thắng lợi của sự thật và chính nghĩa, đối đầu với một quốc gia vẫn luôn tìm cách che giấu tội ác chiến tranh, mong rằng các bạn sẽ đọc bằng tinh thần hòa bình có trong mỗi người. Để chính nghĩa không tìm đến quá trễ, để những việc tương tự không lặp lại, để chúng ta có thể trở thành một cộng đồng nhân loại biết đối mặt với sự thật, tìm thấy hòa bình của tương lai từ những tội ác trong quá khứ, mong bạn hãy cùng chúng tôi ghi nhớ và tiếp bước.


Tháng 6 năm 2025

Mạng lưới xã hội dân sự chính nghĩa giải quyết vấn đề Chiến tranh Việt Nam


Nhà hoạt động và nghiên cứu độc lập Sim A Jung, Nhóm đặc trách làm sáng tỏ sự thật thảm sát thường dân Việt Nam của quân đội Hàn Quốc thuộc Hiệp hội Luật sư vì xã hội dân chủ, Hội Y tế Hàn Quốc vì Hòa bình Việt Nam, Liên đoàn nhân dân giám sát quân đội, Tổ chức Ký ức Hòa bình Archive, Tổ chức đoàn kết nhân dân tham gia dân chủ (PSPD), Quỹ Hòa bình Hàn-Việt, Nhà thờ Hyang Rin


 

* * * * * * *

 

TÒA ÁN ĐỊA PHƯƠNG CẤP CAO SEOUL
BỘ PHẬN DÂN SỰ 3-1

PHÁN QUYẾT


Vụ việc                                  :

Bồi thường thiệt hại (quốc gia) 2023Na14901

Nguyên đơn, người bị

kháng cáo.                          :                  

Nguyễn Thị Thanh

Thôn Phong Nhị, phường Điện An, xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam


Đại diện tố tụng:

Luật sư phụ trách Lim Jae Sung, Jang Wan Ik – Văn phòng luật sư Hae Ma Ru

Luật sư phụ trách Park Jin Seok – Văn phòng luật sư DNS

Luật sư phụ trách Kim Seon Young – Văn phòng luật sư Simin

Luật sư phụ trách Kim Nam Ju – Văn phòng luật sư Dodam

Luật sư phụ trách Oh Min Ae – Văn phòng luật sư Yullip

Luật sư Lee Seon Kyoung

Bị đơn, Người 

kháng cáo.                        :

Đại Hàn Dân Quốc

Người đại diện về mặt pháp luật: Kim Seok Woo - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng phụ trách Bộ Tư pháp


Đại diện tố tụng:

Luật sư phụ trách Sim Hye Jin – Cục Trợ giúp pháp lý Chính phủ

Luật sư phụ trách Ku Chung Seo – Văn phòng luật sư J&C

Luật sư phụ trách Park Seon Gi – Văn phòng luật sư Daedong

Luật sư Ha Eun Jeong


Người thực hiện tố tụng:

Yoon Kyeong Sik, Kim Dong Jin, Yun Se Jin, Choi Ji Hye, Ku Young Seok, Jeong Yu Kyeong

Phán quyết tòa án sơ thẩm  :Phán quyết 2020Gadan5110659 do Tòa án Địa phương Cấp cao Seoul tuyên án ngày 7 tháng 2 năm 2023
Kết thúc tranh tụng                :  11. 10. 2024
Tuyên án phán quyết             : 17. 01. 2025    






























         


TUYÊN BỐ

1. Bác bỏ kháng cáo của bị đơn.

2. Chi phí kháng cáo do bị đơn chịu trách nhiệm.


YÊU CẦU KHỞI KIỆN VÀ YÊU CẦU KHÁNG CÁO

YÊU CẦU KHỞI KIỆN

Bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn số tiền 30,000,100 Won và số tiền tính theo tỉ lệ 12%/năm tính từ ngày gửi cáo trạng vụ việc đến ngày hoàn tất bồi thường của số tiền bồi thường.

YÊU CẦU KHÁNG CÁO

Yêu cầu hủy bỏ nội dung tuyên bị đơn thua kiện trong bản phán quyết tòa sơ thẩm, bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn liên quan đến nội dung hủy bỏ tương ứng.


LÝ DO

1. TÌNH TIẾT CƠ BẢN

a. Nguyên đơn (Nguyễn Thị Thanh) là người mang quốc tịch Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (gọi tắt là Việt Nam).

b. Nguyên đơn sinh ngày 12 tháng 7 năm 1960 (từ đây, liên quan đến các hành vi và tình huống xảy ra ở Việt Nam sẽ được ghi theo khung giờ tại Việt Nam) tại làng Phong Nhị, nay thuộc phường Điện An, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam (từ đây gọi tắt là “làng Phong Nhị”). Vào thời điểm ngày 12 tháng 2 năm 1968, nguyên đơn 7 tuổi, sống cùng với mẹ là Phan Thị Trì sinh năm 1934, anh trai Nguyễn Đức Sang sinh năm 1953, chị gái Nguyễn Thị Trọng sinh năm 1957, em trai Nguyễn Đức Trường sinh năm 1962 tại thôn Phong Nhị.

c. Nguyên đơn chủ trương rằng ngày 12.2.1968, các binh sĩ thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 2 thủy quân lục chiến Hàn Quốc (từ đây gọi tắt là “Đại đội 1 của vụ việc”) trong khi triển khai tác chiến tại làng Phong Nhị đã cố ý xả súng vào các thường dân không vũ trang là nguyên đơn và Nguyễn Đức Sang, gây thương tích, và xả súng giết chết Phan Thị Trì, Nguyễn Thị Trọng, Nguyễn Đức Trường. Theo đó, vào ngày 21.4.2020, nguyên đơn gửi đơn kiện đòi hỏi trách nhiệm bồi thường Nhà nước đối với bị đơn về hành vi gây sát thương như trên đối với nguyên đơn và gia đình nguyên đơn do các binh sĩ trên là các công chức của bị đơn gây ra, và yêu cầu chi trả một phần trong khoản tiền bồi thường cho những đau khổ và sang chấn tinh thần mà bản thân nguyên đơn đã gánh chịu.

d. Theo Hiệp định đình chiến của Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền. Tính từ vĩ tuyến 17, về phía Bắc là Nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (từ đây gọi là “miền Bắc Việt Nam”), về phía Nam là Nước Việt Nam Cộng hòa (từ đây gọi là “miền Nam Việt Nam). Ngay sau đó, giữa miền Bắc Việt Nam và tổ chức nhận viện trợ của nước này là Mặt trận Giải phóng Dân tộc Việt Nam Miền Nam Việt Nam (từ đây gọi là “Việt Cộng”. Từ đây, tổ chức “Việt Cộng” và các nhân lực chiến đấu thuộc tổ chức này hoặc các đơn vị được hình thành với lực lượng này đều được gọi chung là “Việt Cộng”, quân chủ lực Bắc Việt Nam và nhân lực chiến đấu thuộc Việt Cộng được gọi chung với tên gọi là “quân chủ lực miền Bắc”) với miền Nam Việt Nam xảy ra nội chiến được gọi là Chiến tranh Việt Nam Lần 2 (từ đây, Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 2 được gọi tắt là “Chiến tranh Việt Nam”). Ở thời điểm ngày 12.2.1968, Chiến tranh Việt Nam đang diễn ra, và theo yêu cầu của Chính phủ miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ cùng nhiều nước đã phái binh lực chiến đấu sang tham chiến tại chiến trường Việt Nam.

e. Theo yêu cầu của chính phủ Hoa Kỳ, khoảng tháng 10.1965, chính phủ Hàn Quốc đã thành lập Bộ Tư lệnh Quân sự Hàn Quốc tại Việt Nam chuẩn bị cho việc phái quân sang miền Nam Việt Nam. Bộ Tư lệnh này cùng với các đơn vị chiến đấu thuộc cấp như Sư đoàn thủ đô lục quân cấp dưới (“Sư đoàn Mãnh Hổ”), Lữ đoàn 2 thủy quân lục chiến (“Lữ đoàn Rồng Xanh”) đã được gửi quân đến Quy Nhơn, Cam Ranh thuộc miền Nam Việt Nam. Từ đây cho đến khi rút về nước, các đơn vị chiến đấu của quân lực Đại Hàn Dân Quốc đã tham gia vào cuộc chiến tranh với quân chủ lực Bắc Việt Nam và Việt Cộng.

f. Lữ đoàn 2 thủy quân lục chiến Hàn Quốc trực thuộc Bộ Tư lệnh quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam (từ đây gọi là “Lữ đoàn 2 thủy quân lục chiến”) đã thực hiện tác chiến “Phi Long” nhằm chuyển binh lực từ địa bàn đóng quân đầu tiên là Chu Lai thuộc miền Nam Việt Nam lên phía Bắc đến Hội An thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam. Ngay sau đó, dự đoán sẽ có một đợt tấn công quy mô lớn của lực lượng quân chủ lực miền Bắc trên toàn địa bàn tỉnh Quảng Nam như Hội An, và phía Bắc Hội An là Điện Bàn, Đà Nẵng v.v., bắt đầu từ Tết Âm lịch năm Mậu Thân, cụ thể từ ngày 30.1.1968 (trên thực tế, lực lượng quân chủ lực miền Bắc từ sáng sớm ngày 30.1.1968 đã tổ chức tiến công trên quy mô lớn trên khắp các địa phương ở miền Nam Việt Nam, bao gồm nhiều khu vực ở tỉnh Quảng Nam như Hội An, Đà Nẵng v.v.. Từ đây, sự kiện này được gọi là “Tổng tiến công Tết Mậu Thân”) cho đến ngày 29 tháng 2 cùng năm, Lữ đoàn 2 thủy quân lục chiến đã thực hiện phòng ngự và sau đó là đẩy lùi đòn tấn công của quân chủ lực miền Bắc triển khai trên toàn mặt trận ở huyện(縣, từ đây các chữ 縣 xuất hiện sau địa danh Việt Nam đều để chỉ đơn vị hành chính cấp huyện của miền Nam Việt Nam đương thời) Hiếu Nhơn, và trên phần lớn địa bàn huyện Duy Xuyên, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Tiếp đó, Lữ đoàn này triển khai tác chiến “Quái Long 1” với mục tiêu tìm và diệt các lực lượng tàn dư của quân chủ lực miền Bắc đã tẩu thoát và tản mác, lẩn trốn. Để thực hiện và cũng là một phần trong kế hoạch tác chiến Quái Long 1, Lữ đoàn 2 thủy quân lục chiến đã triển khai “Tác chiến chân không” nhằm sơ tán dân thường ra khỏi nhà và chuyển đến các trại tập trung để tìm bắt Việt Cộng lẩn trốn trong làng, phối hợp với Đơn vị Đổ bộ Thủy quân Lục chiến số 3[1] của Mỹ đang đóng quân tại khu vực lân cận để triển khai tác chiến “Nut Cracker” để tìm bắt và tiêu diệt lực lượng quân chủ lực miền Bắc đang ẩn nấp sâu trong vùng trách nhiệm chiến thuật. 

g. Làng Phong Nhị ở thời điểm năm 1968 là một làng quê nhỏ thuộc xã (社, là đơn vị hành chính có quy mô tương ứng với cấp myeon (面) của Hàn Quốc) Thanh Phong, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam thuộc miền Nam Việt Nam. Phía Đông của làng là đoạn đường Quốc lộ 1 chạy dọc hướng Nam Bắc, thuộc địa phận huyện Điện Bàn (từ đây gọi là “Quốc lộ 1”).

h. Thời điểm ngày 12.2.1968, ở khu vực gần làng Phong Nhị có những đồn đóng cố định nằm dọc theo Quốc lộ 1 dành cho các trung đội liên minh tác chiến (Combined Action Platoon, gọi tắt là CAP). Đây là các đơn vị chiến đấu quy mô nhỏ, được thành lập bởi lực lượng lính thủy quân lục chiến thuộc Đơn vị Đổ bộ Thủy quân Lục chiến số 3 của Mỹ với lực lượng lính nghĩa quân miền Nam Việt Nam là những người sống trong các xóm nhỏ quanh làng Phong Nhị. Trong đó, nằm ở phía Bắc làng Phong Nhị có CAP D-1, ngay phía Nam làng Phong Nhị có CAP D-2, và về phía Nam của CAP D-2 có CAP D-3, CAP D-4.

i. Ngày 12.2.1968, tại làng Phong Nhị đã xảy ra cuộc tấn công có tổ chức, sử dụng súng lục, lưỡi lê nhắm vào nhiều người dân trong làng Phong Nhị, trong đó có nguyên đơn và gia đình nguyên đơn. Bị tấn công, nguyên đơn bị thương nặng ở vùng bụng, sau đó phải nhập viện điều trị suốt 08 tháng, trải qua nhiều cuộc phẫu thuật. Trong khi đó, anh trai nguyên đơn là Nguyễn Đức Sang bị thương nặng ở bụng và mông, mẹ của nguyên đơn là Phan Thị Trì, chị gái Nguyễn Thị Trọng, em trai Nguyễn Đức Trường đều bị giết chết trong cùng ngày.

[Căn cứ nhận định] Những sự thật không có tranh cãi, là tất cả nội dung ghi chép hoặc video, lập luận của các chứng cứ số 10, 11, 16, 27, 30, 33, 42, 61 của bên nguyên, chứng cứ số 43 bên bị (bao gồm cả các số phụ trong mỗi số chứng cứ, từ đây, nếu không có ghi chú gì thêm cho các yêu cầu khác thì được xem như tất cả số phụ sẽ cùng quan điểm).

 

2. PHÁN ĐOÁN LIÊN QUAN ĐẾN TOÀN BỘ KHÁNG BIỆN CỦA VỤ ÁN

a. Điểm chính trong quan điểm của bị đơn

Theo thỏa thuận mang tính nguyên tắc giữa ba nước liên quan là Đại Hàn Dân Quốc, miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ, rằng Đại Hàn Dân Quốc không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với các tổn thất do quân đội Hàn Quốc đóng tại Việt Nam gây ra cho thường dân miền Nam Việt Nam, Điều 19 trong “Thỏa thuận công tác quân sự Hàn Quốc – Miền Nam Việt Nam” kí kết giữa Đại Hàn Dân Quốc và miền Nam Việt Nam ngày 5.9.1965 có quy định các thiệt hại về của cải và con người của nhân dân miền Nam Việt Nam do quân đội Hàn Quốc gây ra sẽ được xử lý theo thỏa thuận riêng giữa chính phủ Hàn Quốc và miền Nam Việt Nam. Trong “Thỏa thuận công tác bổ sung Hàn Quốc – Hoa Kỳ” thỏa thuận căn cứ theo Điều 15 trong “Thỏa thuận công tác quân sự Hàn Quốc – Hoa Kỳ” quy định “Các vụ việc yêu cầu quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam bồi thường thiệt hại do các hành vi phi chiến đấu gây ra sẽ được giải quyết thông qua Văn phòng Khiếu nại Quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam, việc đảm bảo chi trả sẽ do Hoa Kỳ thực hiện”. Đồng thời “Các vụ việc đòi tố tụng chiến đấu, tức những vụ việc liên quan đến thiệt hại của chính phủ hoặc cá nhân thuộc miền Nam Việt Nam phát sinh trong quá trình quân đội Hàn Quốc đóng tại Việt Nam chuẩn bị tác chiến, tác chiến, hoặc đang trong quá trình trở về đơn vị sau tác chiến, sẽ được ủy thác cho chủ tịch phường, quận trưởng, tỉnh trưởng của điểm xảy ra vụ việc tố tụng” để giải quyết. Theo đó, từ đây cho đến khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, quyền yêu cầu bồi thường của nhân dân miền Nam Việt Nam đối với bị đơn được hiểu là sẽ được giải quyết thông qua các thủ tục khiếu nại. Vì vậy, Văn phòng Khiếu nại đã được thành lập và cho đến thời điểm năm 1972, trên thực tế, các công tác bồi thường cho nhân dân miền Nam Việt Nam đã được thực hiện, và ngày 16.1.1967, “Hiệp định về Quyền yêu cầu Hàn Quốc – miền Nam Việt Nam” giữa chính phủ Hàn Quốc và chính phủ miền Nam Việt Nam đã được kí kết. Điều này một lần nữa được hiểu là quyền yêu cầu bồi thường của nhân dân miền Nam Việt Nam đối với bị đơn sẽ được giải quyết thông qua các thủ tục khiếu nại như trên. Như vậy, các vấn đề bồi thường đối với các thiệt hại của nhân dân miền Nam Việt Nam liên quan đến các hoạt động chiến đấu hoặc phi chiến đấu của quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam xem như đã được giải quyết, do đó, việc nguyên đơn - một người dân thuộc miền Nam Việt Nam đương thời, kiện bị đơn ra tòa để đòi bồi thường vì cho rằng bản thân đã bị các thiệt hại do hành vi quân đội Hàn Quốc gây ra trong khi tác chiến là không hợp pháp.

b. Phán định

Vì các lý do sau, tòa không chấp thuận quan điểm ở nội dung này của bị đơn, đồng thời, với thẩm quyền của tòa, khi xem xét các tình tiết thể hiện trong các chứng cứ và ghi chép của vụ việc, tòa không chấp nhận việc bị đơn căn cứ theo Thỏa thuận công tác nằm trong hiệp định giữa Nhà nước hay chính phủ Hàn Quốc với Nhà nước hay chính phủ của miền Nam Việt Nam hay Hoa Kỳ để cho rằng việc nguyên đơn khởi kiện là không hợp pháp.

1) Dựa vào nguyên tắc chung cho việc giải thích hành vi pháp luật rằng “Muốn công nhận việc từ bỏ quyền lợi thì phải giải thích một cách nghiêm túc suy nghĩ của người có quyền lợi đó”, khi không có căn cứ rõ ràng và đầy đủ thì không được phép công nhận việc từ bỏ quyền lợi của người có quyền lợi đó, nguyên tắc này không khác đi kể cả khi giải thích cho thỏa thuận, hay hiệp ước, hiệp định giữa các quốc gia hoặc các cơ quan thuộc các quốc gia. Hơn nữa, để một quốc gia đứng ra thay mặt để chủ trương việc từ bỏ quyền lợi của một người dân vốn là chủ thể quyền lợi tách biệt với quốc gia thì càng cần phải được tiếp cận một cách nghiêm túc và cẩn trọng hơn. 

2) Tuy nhiên, trong các hiệp định và thỏa thuận công tác mà bị đơn đã nêu ra với lập luận trên không có câu từ nào có ý nghĩa từ bỏ hoặc cấm cản, tức loại trừ việc thực hiện quyền đòi bồi thường của người dân miền Nam Việt Nam đối với bị đơn.

a) Trong các hiệp định hay thỏa thuận công tác trên chỉ có quy định rằng các thủ tục liên quan đến việc bồi thường cho các thiệt hại của người dân miền Nam Việt Nam cần được thực hiện thông qua quy trình khiếu kiện lên Văn phòng Khiếu nại Quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam hoặc ủy thác cho chủ tịch phường. Không có nội dung nào quy định đích xác về việc một cá nhân người dân miền Nam Việt Nam từ bỏ quyền khiếu nại đòi bồi thường hay quyền tố cáo đối với bị đơn. Ngoài ra, không tìm thấy thỏa thuận nào bác bỏ quyền khởi kiện của người dân miền Nam Việt Nam đối với bị đơn.

b) Trái ngược với điều này, trong hiệp định về Quyền yêu cầu Hàn Quốc – miền Nam Việt Nam được kí kết ngày 16.1.1967 giữa chính phủ Đại Hàn Dân Quốc và miền Nam Việt Nam có nội dung “Chính phủ mỗi nước từ bỏ quyền yêu cầu có được đối với chính phủ nước còn lại hoặc đối với chính phủ nước còn lại liên quan đến các thiệt hại về người là thành viên trong quân đội mỗi nước”, tức có quy định rõ ràng về việc từ bỏ quyền yêu cầu đối với quyền yêu cầu giữa hai quốc gia. 

c) Đặc biệt, trong Thỏa thuận Công tác Quân sự Hàn Quốc – miền Nam Việt Nam được sửa đổi ngày 20.10.1969 có quy định rằng quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam sẽ từ bỏ các quyền yêu cầu bồi thường về tổn thất tài sản, thương tật hoặc tử vong do các thành viên hoặc nhân viên của đơn vị mình gây ra tại Việt Nam. Tiếp đó, thỏa thuận có quy định “việc từ bỏ này không áp dụng cho các quyền yêu cầu cá nhân. Khẳng định quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam và quân đội Việt Nam Cộng hòa có trách nhiệm xét xử và giải quyết cho bên thứ 3 đối với những thiệt hại về tải sản, thương tật hoặc tử vong do các thành viên của đơn vị mình gây ra tại Việt Nam.”  Điều này rõ ràng khẳng định rằng trong mối quan hệ giữa Hàn Quốc và miền Nam Việt Nam, quyền lợi hợp pháp của người dân miền Nam Việt Nam đối với những thiệt hại của người dân miền Nam Việt Nam do hành động của các thành viên quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam gây ra không bị từ bỏ và chưa từng bị từ bỏ. 

3) Mặc dù bị đơn có ý định sử dụng ngân sách của Mỹ để bồi thường cho thiệt hại về con người và tài sản của người dân miền Nam Việt Nam do hành vi chiến đấu hoặc phi chiến đấu của quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam gây ra, và đưa ra quy định trong thỏa thuận công tác với người phụ trách quân sự Hoa Kỳ về các thủ tục khiếu kiện đến Văn phòng Khiếu nại Quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam được thành lập tại miền Nam Việt Nam, và trên thực tế đã có những trường hợp người dân miền Nam Việt Nam nhận được bồi thường theo các thủ tục này, tuy nhiên, điều này hoàn toàn khó có thể được coi là căn cứ rõ ràng và đầy đủ để thừa nhận việc từ bỏ quyền yêu cầu bồi thường của người dân miền Nam Việt Nam đối với bị đơn.

4) Như vậy, ý nghĩa của các hiệp định và thỏa thuận công tác mà bị đơn đưa ra chỉ đơn giản là xây dựng các thủ tục ủy thác cho chủ tịch phường hoặc thủ tục khiếu kiện lên Văn phòng Khiếu nại Quân đội Hàn Quốc theo các thủ tục hay cách thức bồi thường thiệt hại về con người và tài sản của người dân miền Nam Việt Nam do hành vi chiến đấu hoặc phi chiến đấu của quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam gây ra, để giảm thiểu rủi ro tài chính cho bị đơn thông qua sự thuận tiện trong việc liên kết với các hỗ trợ tài chính của Mỹ nhằm đảm bảo thực hiện nhanh chóng công tác cứu tế cho các thiệt hại của người dân miền Nam Việt Nam. Dựa vào nguyên tắc chung về giải thích hành vi pháp luật đã nêu trên, không thể cho rằng bị đơn và Việt Nam Cộng hòa, theo những hiệp định trên, đã thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu bồi thường đối với bị đơn, cũng như quyền khởi kiện để đảm bảo việc thực hiện hành vi pháp luật đó của người dân miền Nam Việt Nam, hay loại trừ hoặc hạn chế việc thực hiện các quyền khởi kiện này, ngay cả khi xem xét theo quyền hạn tự thẩm tra cũng không tìm thấy bất kì hiệp định hay thỏa thuận nào giữa bị đơn và Việt Nam Cộng hòa có nội dung như vậy. 

5) Tuy nhiên, theo các hiệp định và thỏa thuận công tác trên, có thể có cách lý giải rằng “Người dân miền Nam Việt Nam nếu muốn khởi kiện bị đơn, đòi bồi thường cho những thiệt hại gây ra bởi hành vi chiến đấu, phi chiến đấu của đơn vị hoặc thành viên của đơn vị thuộc lực lượng quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam thì trước hết phải thông qua Văn phòng Khiếu nại Quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam đúng như quy định trong thỏa thuận công tác giữa những người chịu trách nhiệm quân sự của Đại Hàn Dân Quốc với miền Nam Việt Nam, và của Đại Hàn Dân Quốc với Hoa Kỳ. Và do đó, một khi nguyên đơn khởi kiện mà không thông qua các thủ tục như vậy, có thể xem như vụ kiện không hợp pháp”. Tuy nhiên, giả dụ có theo kiến giải như vậy đi chăng nữa, thì xét ở những lý do nêu dưới đây, cần phải xem rằng những thỏa thuận với nội dung như đã nêu đã hết hiệu lực. Và vì vậy, sẽ không thể lấy lý do nguyên đơn không tuân theo các quy trình thủ tục về khiếu kiện đó mà xem vụ kiện này là không hợp pháp.

a)  Như đã trình bày ở trên, nguyên đơn chủ trương rằng các quân lính thuộc quyền quản lý của bị đơn đã cố ý sát thương lên các thường dân không vũ trang là nguyên đơn và gia đình nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn chi trả tiền bồi thường cho những thương tổn về tinh thần và sang chấn tâm lý của nguyên đơn do các hành vi đó gây ra. Tuy nhiên, tại Điều 6 của Phụ lục A của Thỏa thuận Công tác bổ sung Hàn Quốc – Miền Nam Việt Nam có quy định “Khiếu kiện phi chiến đấu là để chỉ việc bồi thường cho những thiệt hại về tài sản, thân thể, tính mạng xảy ra tại Việt Nam do các hành vi phạm pháp hoặc không phạm pháp của quân lính và người thuộc lực lượng quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam gây ra do cố ý phạm pháp hoặc do sơ suất, bất kể hành vi đó xảy ra trong quá trình thực thi công vụ hay không. Đồng thời, nó cũng chỉ việc yêu cầu bồi thường đối với các thiệt hại phát sinh trong thời chiến xảy ra ở Việt Nam do các hành vi do người ở địa phương được Quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam giao phó gây ra trong quá trình thực thi nhiệm vụ.” Do đó, với tư cách là một “vụ việc yêu cầu bồi thường đối với lực lượng quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam về các thiệt hại phát sinh do hành vi phi chiến đấu” theo Thỏa thuận Công tác Bổ sung Hàn Quốc – Hoa Kỳ, vụ việc này cần phải được xem là vụ việc xử lý các vấn đề bồi thường đó theo quy trình thủ tục khiếu kiện lên Văn phòng Khiếu nại Quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam.

b) Liệu có thể hạn chế những quyền lợi của người dân miền Nam Việt Nam, chẳng hạn như quyền tố tụng, dựa vào các thỏa thuận công tác vốn chỉ là thỏa thuận giữa những cơ quan quân sự nói trên hay không là vấn đề còn phụ thuộc vào cách giải thích các quy định pháp luật của miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, giả sử các thỏa thuận đó có hiệu lực tác động đến nguyên đơn, hạn chế quyền lợi của nguyên đơn, thì việc bồi thường cho các thiệt hại gây ra bởi hành vi phi chiến đấu chiếu theo các thỏa thuận công tác trên được quy định theo một phương thức mang tính quy tắc, là bước đầu tiên phải được giải quyết thông qua việc khiếu nại lên Văn phòng Khiếu nại Quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam. Theo đó, có thể xem rằng đây là cách giải quyết theo nguyên tắc khiếu nại trước khi kiện (訴請 前置主義).

c) Tuy nhiên, cho đến năm 1972, Văn phòng Khiếu nại Quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam đã từng thực hiện bồi thường thiệt hại cho người dân miền Nam Việt Nam. Và đến năm 1973, sau khi miền Nam hợp nhất với miền Bắc, Văn phòng Khiếu nại Quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam cũng bị giải thể. Về điều này, không chỉ bị đơn cũng thừa nhận mà chứng cứ cũng thể hiện rất rõ ràng. 

d) Như vậy, với sự giải thể của các Văn phòng Khiếu nại Quân đội Hàn Quốc đóng tại Việt Nam, kể từ sau đó, người dân miền Nam Việt Nam không còn khả năng thực hiện quyền lợi theo các trình tự khiếu kiện, hơn nữa, giả sử có thỏa thuận giữa Hàn Quốc và miền Nam Việt Nam như một hành vi khiếu nại trước khi kiện về việc bồi thường cho những thiệt hại của thường dân Việt Nam gây ra bởi hành vi phi chiến đấu của quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam, và với thỏa thuận đó, hiệu lực hạn chế quyền lợi của nhân dân miền Nam Việt Nam, chẳng hạn như nguyên đơn, được khẳng định đi chăng nữa thì thỏa thuận đó cần phải được xem là đã mất hiệu lực.


3. PHÁN ĐOÁN LIÊN QUAN ĐẾN VỤ ÁN


* Toàn văn bản dịch của bản án có thể được tải xuống tại link bên dưới.*

https://readmore.do/2ADr